Bàn luận về vấn đề này với các doanh nghiệp chúng tôi đã hiểu . Chính các cơ quan có bổn phận quyền hạn như Bộ lao động thương binh xã hội cũng đã nhận thấy thực trạng này từ lâu và vẫn đang tìm cách giải quyết . Và đã có những định hướng để giải quyết về vấn đề này:
Bà Trịnh Thu Nga, Viện Khoa học lao động và xã hội cho rằng, đây là một thực tiễn cần được tính toán đến lúc mà các chế độ tương trợ lao động trở về còn thiếu cụ thể . Sự tham dự của các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương và đối tác xã hội trong việc hỗ trợ người lao động tái hòa nhập cộng đồng và thị trường lao động còn thiếu và yếu.
Là người có thâm niên gắn bó với hoạt động của ngành xuất khẩu lao động , ông Đào Công Hải- nguyên Phó Cục trưởng Cục điều hành lao động nước ngoài nhận xét, những người đi xuất khẩu lao động thường được đánh giá cao bởi có kỷ luật lao động, tay nghề và ứng dụng nhanh công nghệ mới. Song Lúc này , chúng ta mới chỉ quan tâm đưa người đi lao động xuất khẩu chứ chưa quy định trách nhiệm chi tiết trong việc tổng hợp, đánh giá nguồn lực lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về theo địa bàn, ngành nghề, trình độ, tuổi tác, giới tính, nguyện vọng… bên cạnh đó việc thực hiện các quy định hỗ trợ tạo công việc cho xuất khẩu lao động sau khi về nước còn thiếu những hướng dẫn rõ ràng về nghĩa vụ của chính quyền địa phương, cơ quan điều hành nhà nước, doanh nghiệp lao động xuất khẩu và hệ thống hỗ trợ công việc .
Để làm được điều này, ngoài việc hoàn thiện khung khổ pháp lý, cơ chế chính sách hỗ trợ lao động di cư, Bộ LĐTBXH cùng các địa phương cần phải xây dựng được ngân hàng dữ liệu về lao động trở về, cập nhật luôn luôn để các công ty , doanh nghiệp lao động xuất khẩu , trung tâm dịch vụ công việc có thể khai thác, kết nối thị trường lao động, khắc phục công việc vững bền cho người lao động .
Tư vấn giải quyết việc làm cho người lao động sau khi về nước
Sau khi xuat khau lao dong Nhat Ban về nước, người lao động phải tự thân vận động, tự tìm việc làm , thậm chí là về nước thất nghiệp, không phát huy được kỹ năng, vốn, và trình độ ngoại ngữ sau thời gian làm việc ở nước ngoài là một thực tế . Chất lượng lao động của người lao động sau khi đi làm việc ở nước ngoài đã được cải thiện rõ rệt. Đáng lưu ý , lao động sau khi về nước có việc làm ngay chiếm trên 80% , nhưng đáng nói là chỉ có 10% tìm được công việc hợp lý liên quan đến việc đã làm ở nước ngoài , điều này cho thấy một sự lãng phí nguồn lực rất lớn. Bà Trịnh Thu Nga, Viện Khoa học lao động và xã hội cho rằng, đây là một thực tiễn cần được tính toán đến lúc mà các chế độ tương trợ lao động trở về còn thiếu cụ thể . Sự tham dự của các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương và đối tác xã hội trong việc hỗ trợ người lao động tái hòa nhập cộng đồng và thị trường lao động còn thiếu và yếu.
Là người có thâm niên gắn bó với hoạt động của ngành xuất khẩu lao động , ông Đào Công Hải- nguyên Phó Cục trưởng Cục điều hành lao động nước ngoài nhận xét, những người đi xuất khẩu lao động thường được đánh giá cao bởi có kỷ luật lao động, tay nghề và ứng dụng nhanh công nghệ mới. Song Lúc này , chúng ta mới chỉ quan tâm đưa người đi lao động xuất khẩu chứ chưa quy định trách nhiệm chi tiết trong việc tổng hợp, đánh giá nguồn lực lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về theo địa bàn, ngành nghề, trình độ, tuổi tác, giới tính, nguyện vọng… bên cạnh đó việc thực hiện các quy định hỗ trợ tạo công việc cho xuất khẩu lao động sau khi về nước còn thiếu những hướng dẫn rõ ràng về nghĩa vụ của chính quyền địa phương, cơ quan điều hành nhà nước, doanh nghiệp lao động xuất khẩu và hệ thống hỗ trợ công việc .
Để làm được điều này, ngoài việc hoàn thiện khung khổ pháp lý, cơ chế chính sách hỗ trợ lao động di cư, Bộ LĐTBXH cùng các địa phương cần phải xây dựng được ngân hàng dữ liệu về lao động trở về, cập nhật luôn luôn để các công ty , doanh nghiệp lao động xuất khẩu , trung tâm dịch vụ công việc có thể khai thác, kết nối thị trường lao động, khắc phục công việc vững bền cho người lao động .
Advertisement